Nông giàn khoan & lõi khoan giàn khoan

Khoan kỹ thuật là một dự án để khám phá quặng ngầm địa chất, khoáng vật quặng cơ thể cũng như để xác định vị trí khai thác khoáng sản bằng phương pháp khoan giếng khoan vào underground và lõi hoặc xỉ. Chiều sâu khoan thay đổi từ hàng chục mét đến hàng ngàn mét. Trong thăm dò địa chất, hầu hết ở độ sâu khoan là trong phạm vi 100 đến 1000 mét.

Có hai loại thiết khoan thường được áp dụng trong quá trình thăm dò địa chất: nông khoan giàn khoan và lõi khoan giàn khoan (cơ khí Máy khoan giàn khoan).

Nông khoan giàn khoan là theo chiều dọc thường được khoan nông, bao gồm cả máy khoan và khoan lõi khoan. Chiều sâu khoan là ít hơn 100 mét. Nó có các tính năng của cấu trúc đơn giản, hiệu quả cao và chi phí thấp. Giàn khoan cạn có thể được sử dụng trong độ sâu 100 mét hoặc khi một lượng lớn nước chảy, và cũng cạn khoan không thể áp dụng. Giàn khoan nông cũng có thể được sử dụng để xác minh và kiểm tra vị trí của khoáng chất và địa vật lý địa hóa dị thường.

Lõi khoan giàn khoan là một cơ khí khoan, được trang bị với một bộ hoàn chỉnh các máy móc và thiết bị, chẳng hạn như tháp khoan, khoan giàn khoan, máy bơm, động cơ diesel hay động cơ điện. Chiều sâu khoan bao gồm 300 mét đến 1000 mét. Giàn khoan lõi ở nước ta thường bao gồm địa chất cốt lõi khoan giàn khoan, xây dựng giàn khoan và nước cũng khoan giàn khoan.

giàn khoan khoan địa chất cốt lõi

xây dựng giàn khoan khoan

nước cũng khoan giàn khoan